Hoa anh túc là một loài hoa có màu sắc sặc sỡ và thu hút ánh nhìn. Tùy theo từng loại mà màu sắc của chúng thay đổi từ màu đỏ sang vàng. Ngoài ra, nếu bạn vô tình sử dụng cây anh túc này thì chúng có thể gây nghiện cho bạn. Đâu là nguyên nhân? Hãy theo dõi bài viết hóa học đằng sau hoa anh túc để hiểu rõ hơn nhé!

Đôi nét

Anh túc hay còn gọi là a phiến, á phiện, thuốc phiện, thẩu, trẩu (người Tày gọi là cây nàng tiên), là loài thực vật có tên khoa học là Papaver somniferum L., thuộc họ Anh túc (Papaveraceae). Cây này có nguồn gốc từ Hy Lạp, thường được trồng nhiều ở châu Á và châu Âu. Đây là loài cây thân thảo, có chiều cao từ 1 – 1,6m với tuổi thọ kéo dài khoảng 2 năm. Toàn thân có màu lục, thân mềm, mọc thẳng, rễ ở dạng phân nhánh. Lá cây có hình bầu dục, nhiều tua và mọc xung quanh thân cây.

Hoa anh túc có màu trắng, tím hoặc đỏ vàng và thường nở vào tháng 3. Còn quả thường ra vào tháng 5, ban đầu có màu xanh nhưng càng về già thì càng có màu nâu đen.

Cây anh túc được xem là cây dược liệu quý. Trong y học dùng cho giảm đau tốt nhất trong các loại dược liệu cả Đông lẫn Tây y. Chiết suất của cây này làm gây nghiện nặng. Ngành y học khuyến cáo không nên dùng trong các trường hợp thông thường, phải có sự chỉ định chi tiết và giám sát trực tiếp của bác sĩ. Việc lạm dụng quá mức có thể gây nghiện.

Hóa học đằng sau

Cũng như nhiều loài hoa khác, màu đỏ như máu của hoa anh túc thông thường là do chất anthocyanin. Chúng chứa anthocyanins bao gồm cyanidin 3-sophoroside và cyanidin 3-glucoside. Một số biến thể về màu sắc là do nồng độ khác nhau của các anthocyanin này.

Đối với một số loài cây anh túc, các biến thể màu sắc cũng có cơ sở hóa học gây tò mò hơn. Anh túc Iceland, anh túc núi cao và anh túc xứ Wales đều đáng chú ý vì có những giống có cánh hoa màu vàng. Màu vàng này không phải do anthocyanins mà là một loại sắc tố khác gọi là nudicaulins.

Nudicaulin lần đầu tiên được phân lập cách đây hơn 100 năm, nhưng cấu trúc của chúng vẫn chưa được xác nhận cho đến năm 2013. Một phản ứng bất thường giữa anthocyanins và indole là nguyên nhân tạo ra chúng trong những cây anh túc này. Những tiền chất này được tạo ra bởi nhiều loài thực vật có hoa, vì vậy tại sao chúng chỉ được tìm thấy trong một số loại anh túc vẫn còn là một bí ẩn.

Tiến trình khám pha ra cấu trúc nudicaulin . Nguồn: Rory Devlin

Khác với màu sắc của chúng, anh túc nổi tiếng vì có liên quan đến thuốc phiện. Thuốc phiện là chất lỏng màu trắng đục thu được từ vỏ hạt cây thuốc phiện, có chứa chất giảm đau alkaloid mạnh bao gồm morphin và codein. Thuốc giảm đau mạnh hơn, diamorphin, có thể được sản xuất bằng cách sử dụng morphin như một điểm khởi đầu. Diamorphine thường được gọi là heroin.

Các loại anh túc khác cũng chứa các hợp chất alkaloid. Cây thuốc phiện thông thường chứa nhiều alkaloid khác nhau, bao gồm rhoeadine và rhoeagenine. Tuy nhiên, những alkaloid này chỉ có đặc tính giảm đau rất nhẹ và không giống như alkaloid của cây thuốc phiện, chúng không gây nghiện. Trên thực tế, rhoeadine là một trong số các hợp chất đã được nghiên cứu để điều trị sự phụ thuộc vào morphin.

Phản ứng tổng hợp heroin từ morphine

Tác dụng của anh túc

Theo trang helloBACSI.com thì trong Đông y, người ta sử dụng nhựa lấy từ quả chưa chín để làm thuốc. Quả sau khi được lấy nhựa được gọi là anh túc xác hay cù túc xác.

Trong nhựa anh túc có chứa các thành phần như morphin, codein, narcotin, papaverin… với các tác dụng:

  1. Tác dụng giảm đau: morphin và codein có tác dụng giảm đau mạnh, giúp nâng ngưỡng chịu đau, làm dịu cơn đau.
  2. Đối với hệ tuần hoàn: morphin có khả năng làm giãn tĩnh mạch ngoại vi, làm giải phóng histamin, gây giảm huyết áp. Vì vậy, những người bị thiếu máu, huyết áp thấp khi dùng cần phải hết sức thận trọng.
  3. Đối với hệ hô hấp: morphin có thể gây ức chế mạnh cho hệ hô hấp. Nếu sử dụng liều thấp, morphin giúp ức chế các cơn đau, giảm ho, còn codein giúp long đờm.

Cây anh túc có vị chua, đắng, hơi chát, tính bình, có độc, quy vào các kinh phế, thận, tràng, vị và có tác dụng chỉ thống, chỉ khái, chỉ lỵ. Hạt thuốc phiện có vị ngọt, tính bình, quy vào kinh tràng, vị, có tác dụng trị nôn, táo bón.

Tuy nhiên, các thành phần có trong loài cây này có thể gây nghiện và nhiều hệ lụy khác nên nhà nước Việt Nam nghiêm cấm gieo trồng anh túc cũng như các cây có chứa chất ma túy.

Việc sử dụng cây anh túc hay chiết xuất của chúng để nghiên cứu, làm thuốc và điều trị bệnh được quản lý chặt chẽ bởi các quy định hiện hành. Bạn không được tự ý sử dụng khi không có chỉ định từ bác sĩ.

Bài viết đến đây là hết rồi. Hi vọng sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Wikipedia, helloBACSI, Compound InterestRory Devlin.

Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm:

  1. Xin lưu ý rằng nội dung được cung cấp bởi trang web của chúng tôi chỉ dành cho MỤC ĐÍCH GIÁO DỤC. Bằng cách sử dụng trang web này, bạn thừa nhận rằng HHLCS.com sẽ không chịu trách nhiệm cho bất kỳ thiệt hại, thương tích hoặc các vấn đề pháp lý khác do bạn sử dụng hoặc ứng dụng thông tin trên trang web này.
  2. Đặc biệt, chúng tôi không chấp nhận việc sử dụng nội dung này cho các mục đích gây rối, không an toàn, bất hợp pháp hoặc phá hoại. Bạn có trách nhiệm tuân theo tất cả các luật hiện hành trước khi sử dụng hoặc áp dụng thông tin được cung cấp trên trang web này.